Những dấu hiệu oan sai trong “kỳ án” xử đôi vợ chồng tội lừa đảo ở Phú Thọ

Sau khi bị TAND tỉnh Phú Thọ tuyên 21 năm tù cho cả hai vợ chồng chị Huệ và anh Lâm, anh chị liên tục kêu oan.

Trong phiên tòa xét xử ngày 24/1/2018, mặc dù anh Lâm, chị Huệ liên tục kêu oan và cung cấp nhiều tài liệu chứng cứ mới; ông Kim cũng thừa nhận tại công ty có hai hệ thống sổ sách kế toán nhưng Tòa cấp sơ thẩm đã không căn cứ vào các lời khai ban đầu của Lâm.

Các báo cáo anh Lâm gửi cơ quan điều tra từ năm 2012; 02 Biên bản đối chất; không xem xét các kết luận giám định của Bộ Quốc phòng một cách đầy đủ; bỏ qua toàn bộ các chứng cứ vô tội, chỉ tập trung vào các chứng cứ buộc tội và tuyên phạt chị Huệ 14 năm tù, anh Lâm 7 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Loading...

Kết thúc phiên tòa, luật sư bảo vệ cho anh Lâm, chị Huệ thuộc Đoàn luật sư TP Hà Nội cho rằng, hai vợ chồng chị Huệ, anh Lâm bị oan và các căn cứ buộc tội không thuyết phục bởi lẽ có nhiều dấu hiện oan sai.

Theo cơ quan tố tụng, chị Huệ dùng thủ đoạn gian dối lập khống hợp đồng vay tiền và lập khống Hợp đồng lao động để chiếm đoạt tiền của công ty Kee Eun. Huệ chuyển tiền từ tài khoản công ty Kee Eun về tài khoản công ty Đại Hưng thông qua 06 ủy nhiệm chi, về tài khoản của Huệ thông qua 03 ủy nhiệm chi.

Tuy nhiên các chứng cứ trong hồ sơ vụ án chưa đủ cơ sở xác định các hợp đồng này được lập khống và việc chuyển tiền là chiếm đoạt tài sản. Trong tất cả các bản khai, chị Huệ đều khẳng định các hợp đồng này là có thật và giữa chị và ông Kim có thỏa thuận về việc vay tiền và ký hợp đồng lao động 3000 usd/tháng.

Trong hồ sơ có 11 biên bản hỏi cung và 01 bản tự khai của bị can, anh Lâm khai không có số tiền 05 tỷ đồng cho vay. Tuy nhiên theo lời khai của anh Lâm tại phiên tòa sơ thẩm thì những lời khai đó là do anh bị ép cung, dùng nhục hình.

Vì vậy có căn cứ cho rằng việc khai báo này là không đúng. Tại phiên tòa chị Huệ khai rằng khi chị Huệ tới bệnh viện thì thấy trên người anh Lâm xuất hiện nhiều vết bầm tím khác không liên quan đến quá trình cấp cứu tại bệnh viện. Do đó cần phải triệu tập cán bộ y tế tại bệnh viện để hỏi rõ những vết bầm tím đó do nguyên nhân gì, có phải do bị đánh đập trước khi đưa vào bệnh viện hay không?.

Các biên bản đối chất và lời khai sau này của anh Lâm khẳng định việc vay mượn là có thật. Như vậy lời khai của anh Lâm và chị Huệ thống nhất với nhau và mâu thuẫn với lời khai của ông Kim Han Yong.

Theo ông Kim Han Yong khai, không có hợp đồng vay tiền và hợp đồng lao động, là do Huệ là tự lập dựa trên các giấy trắng ông Kim ký khống lên và chưa có nội dung. Ông Kim cho rằng ông đã đưa bản ký khống cho nhân viên kế toán thế nhưng ông Kim không chứng minh được ông đã đưa bao nhiêu tờ và có căn cứ gì chứng minh ông Kim đã đưa cho chị Huệ các bản giấy ký khống?

Bản án của TAND tỉnh Phú Thọ tuyên hai vợ chồng chị Huệ 21 năm tù, đôi vợ chồng kháng cáo và kêu oan lên TANDTC.

Ông Kim còn cho rằng 06 ủy nhiệm chi của công ty Kee mà Huệ sử dụng để chuyển tiền thì ông Kim không biết về những nội dung chi này và Huệ sử dụng ủy nhiệm chi ký khống khi ông đi công tác đưa cho kế toán để làm các thủ tục chuyển tiền.

Thế nhưng ông Kim không chứng minh được ông đã giao bao nhiêu ủy nhiệm chi ký khống cho chị Huệ. Ủy nhiệm chi dùng chi tiền là giấy tờ cực kỳ quan trọng, nhất định phải khống chế lượng giấy ký khống phát ra, thu về và nội dung chi nếu có việc ký khống. Không thể có việc giao tràn lan mà không có kiểm tra báo cáo như ông Kim khai.

Mặt khác kết luận giám định ngày 20/9/2016 về ủy nhiệm chi kết luận: không đủ kết luận chữ ký Kim Han Yong được ký trước hay sau nội dung viết tay trên tài liệu. Như vậy chưa đủ căn cứ để cho rằng chị Huệ đã sử dụng ủy nhiệm chi ký khống và việc chuyển tiền là có thật, được thực hiện đúng thủ tục tại ngân hàng. Do đó không chứng minh được dấu hiệu chiếm đoạt của chị Huệ.

Kết luận điều tra chưa đủ căn cứ để kết tội

Theo ông Kim Han Yong thì con dấu đóng trên Hợp đồng vay tiền và các giấy nhận nợ là hình dấu công ty KEE EUN (KE) Hàn Quốc cấp cho ông Kim Han Yong để sử dụng với tư cách nhà đầu tư khi làm thủ tục đề nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép thành lập và hoạt động cho cty KE, không phải là con dấu của công ty KE Việt Nam và cũng không phải con dấu cá nhân của ông và đã giao cho chị Huệ quản lý, vì không có con dấu công ty nên chị Huệ đã sử dụng con dấu này để đóng vào hợp đồng vay tiền.

Song cơ quan tố tụng không có bằng chứng pháp lý nào khẳng định ông Kim đã giao con dấu này cho chị Huệ quản lý. Cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm cũng không xác minh bên Hàn Quốc để làm rõ con dấu tròn nhỏ được đóng trên hợp đồng vay tiền số 02 và các giấy nhận nợ là con dấu của cá nhân ông Kim mà đã vội vàng quy kết dấu đó không phải dấu cá nhân của ông Kim là không khách quan và không làm hết trách nhiệm, dẫn đến oan sai cho cho chị Huệ.

Kết luận giám định của Phòng giám định kỹ thuật hình sự Bộ Quốc phòng.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra tiến hành xác minh những lần ông Kim về Hàn Quốc hoặc ra nước ngoài thì các văn bản hồ sơ vẫn được phát hành, các giao dịch chuyển khoản vẫn được thực hiện bằng ủy nhiệm chi, lệnh chuyển tiền, phiếu thu cho chữ ký và cho rằng có căn cứ xác định lời khai ông Kim về việc ký khống vào giấy tờ là đúng.

Tuy nhiên kết luận này của cơ quan điều tra là chưa đủ cơ sở bởi chưa có bất cứ căn cứ gì chứng minh những giấy tờ trong 294 ngày ông Kim về nước mà tại Việt Nam vẫn giao dịch là giấy ký khống do đó cơ quan tố tụng cần trưng cầu giám định những giấy tờ đó có ký khống hay không mới chứng minh được lời khai của ông kim là đúng.

Xác minh tại Công ty Kee Eun thể hiện toàn bộ hệ thống sổ sách kế toán của công ty không theo dõi và hạch toán tiền lương phải trả cho Huệ 3000 usd/tháng theo nội dung hợp đồng số 17 thể hiện và không có trong hồ sơ lưu trữ tại công ty Kee Eun.

Tuy nhiên theo chị Huệ thì thực tế tại Công ty Kee Eun Việt Nam tồn tại 02 hệ thống sổ sách kế toán, trong đó có Sổ chi lương ngoài, Sổ Ngân hàng (chi qua Ngân hàng) và Sổ chi ngoài (các chi phí khác ngoài lương).

Việc chi trả lương và trả tiền vay cho 02 hợp đồng 017 và 02 được theo dõi đồng thời với các khoản chi ngoài sổ sách, trong sổ ngân hàng của công ty Kee Eunnhưng Tòa cấp sơ thẩm bỏ qua không xem xét chứng cứ này.

Theo sổ chi ngoài do chị Huệ lập trong quá trình làm việc và trình Tổng giám đốc là ông Kim xem duyệt thì tại bút lục 180 thể hiện các khoản chi phù hợp với các ủy nhiệm chi đã sử dụng để chuyển tiền. Như vậy có căn cứ cho rằng năm 2011 ông Kim biết các khoản chi này chứ không phải là không biết như lời ông Kim khai.

Trong hồ sơ còn thể hiện, 04 phiếu thu tiền thể hiện việc chị Huệ nộp tiền vào công ty Kee Eun là tài liệu vô cùng quan trọng để làm rõ việc ông Kim vay tiền của anh Lâm. Đến nay, giám định không kết luận được chữ ký của ông Kim Han Yong trên 4 phiếu thu tiền có trước hay sau khi có nội dung viết tay. Do đó, không có căn cứ cho rằng chị Huệ không nộp tiền vào công ty Kee Eun.

Chính vì không kết luận được chữ ký trên các phiếu thu được ký trước hay sau do đó cơ quan tố tụng đã trưng cầu giám định tuổi mực. Tuy nhiên kết luận giám định đối với tuổi mực lại không khách quan.

Thứ nhất, trên 4 phiếu thu tiền, trên Hợp đồng lao động có chữ ký của chị Trần Thị Minh Huệ và chữ ký của ông Kim Han Yong. Nhưng cơ quan điều tra chỉ giám định tuổi mực đối với chữ ký và chữ viết của chị Huệ mà không giám định tuổi mực đối với chữ ký của ông Kim Han Yong là không công bằng, không khách quan.

Thứ hai, phương pháp giám định là xác định tính chất hóa lý của mực và phương pháp xác định độ hòa tan của mực vào dung môi và sự bám dính vào giấy để xem xử sự của các mẫu giám định và so sánh có giống nhau không. Kết luận giám định xác định mực trên tài liệu cần giám định và mực trên mẫu so sánh không cùng một loại.

Tuy nhiên kết luận giám định lại dựa vào thời gian của mực trên mẫu so sánh để xác định khoảng thời gian của mực trên tài liệu cần giám định là không phù hợp, vì hai loại mực khác nhau sẽ có độ hòa tan vào dung môi và sự bám dính vào giấy khác nhau, việc có xử sự giống nhau cũng chưa thể khẳng định là được ký và viết vào cùng thời gian. Việc dựa vào tuổi mực của mẫu so sánh để kết luận tuổi mực của tài liệu cần giám định trong khi hai loại mực là khác nhau là chưa khách quan.

Như vậy, cho đến nay không có căn cứ nào xác định chữ ký của ông Kim trên 4 phiếu thu có trước hay sau nội dung “vay tiền của Vũ Đại Lâm”, và không có căn cứ nào xác định chữ ký của ông Kim trên 4 phiếu thu có trước hay sau chữ ký của chị Trần Thị Minh Huệ.

Theo kết luận giám định thì dấu đóng trên hợp đồng lao động năm 2005 là con dấu của công ty Kee Eun được cấp năm 2006. Tuy nhiên theo chị Huệ, ở công ty Kee Eun, hợp đồng lao động năm 2005 nhưng được đóng dấu của năm 2006 là điều bình thường.

Công ty thường dồn nhiều hợp đồng lao động và một số văn bản vào một đợt rồi đóng dấu. Đó là lý do vì sao dấu đóng trên HĐ lao động 017 là dấu được cấp sau thời điểm ký hợp đồng. Ở công ty Kee Eun có nhiều trường hợp giống trường hợp của chị Huệ và chị đã cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh. Đây là tình trạng chung của công ty Kee Eun.

Vì vậy, việc dựa vào giám định dấu được đóng sau thời điểm ký hợp đồng rồi kết luận chị Huệ tự lập Hợp đồng lao động là chưa đủ cơ sở.

Như vậy Các kết luận giám định và nội dung điều tra xác minh của cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ để kết tội Trần Thị Minh Huệ, còn nhiều điểm chưa được làm rõ và còn nhiều mâu thuẫn, do đó chưa đủ căn cứ để chứng minh Chị Trần Thị Minh Huệ đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công ty Kee Eun Hàn Quốc. Việc truy tố chị Huệ về hành vi trên là chưa hợp lý, chưa khách quan, có dấu hiệu oan sai.

Trong đơn kêu oan gửi tòa soạn Pháp luật Plus – báo Pháp luật Việt Nam, bà Trần Thị Minh Huệ và chồng là Vũ Đại Lâm trú tại TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ cho biết.

Từ năm 2011, Anh Lâm, chị Huệ đã liên tục gửi đơn kêu oan đến các cơ quan chức năng và khẳng định không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Công ty Kee Eun Việt Nam nay đổi tên thành Công ty TNHH Sein together Kee Eun Việt Nam – địa chỉ tại Lô 6, khu công nghiệp Thụy Vân – Việt Trì – Phú Thọ.

Thực tế anh Lâm, chị Huệ cho rằng, đã cho ông Kim vay tiền bằng chuyển khoản và đưa tiền mặt: một lần cho vay 3,1 tỷ đồng năm 2007; một lần cho vay 5 tỷ đồng năm 2009.

Việc vay tiền và thỏa thuận trả lương theo hợp đồng lao động giữa ông Kim và anh Lâm, chị Huệ là hoàn toàn tự nguyện.

Tất cả các giao dịch đều có chữ ký của ông Kim và đóng dấu công ty Kee Eun. Đây là giao dịch dân sự và không có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự.

Năm 2013, anh Lâm, chị Huệ đã liên tục kêu oan, và cung cấp chứng cứ chứng minh không phạm tội.

Và trên thực tế trên chứng từ ghi rõ anh Lâm chuyển tiền cho ông Kim vay nên Cơ quan điều tra và VKSND tỉnh Phú Thọ đã phải thay đổi tội danh và truy tố vợ chồng anh Lâm, chị Huệ về tội mua bán hóa đơn GTGT, nhưng ông Kim mua hóa đơn khống lại không bị xử lý ?

Cũng trong thời gian này, chị Huệ có đơn tố cáo ông Kim mua bán hóa đơn GTGT khống với số lượng lớn nhằm hợp thức sổ sách chiếm đoạt hàng tỷ đồng tiền thuế của nhà nước…..nhưng cơ quan điều tra không giải quyết?

Theo Duy Khương / Báo Phapluatplus.vn

Related Posts